Náng hoa trắng

Ngày Sun/07/2017

Náng hóa trắng

Hình ảnh: Náng hoa trắng

  • Tên khoa học: Crinum asiaticum L.
  • Tên khác: Tỏi voi, chuối nước, cây lá náng, vân châu lan, luột lài, cáp gun (Tày), co lạc quận (Thái).
  • Tên nước ngoài: Asia poison Bulb (Anh), Crinole asiatique (Pháp)
  • Họ: Thủy tiên (Amaryllidaceae)

MÔ TẢ:

  • Cây thảo lớn, thân hành to hình cầu hoặc hình trứng thuôn, đường kính đến 10cm, thắt lại ở đầu. Lá mọc thẳng từ thân hành, hình dài, phiến dày, dài 1m hoặc hơn, rộng 5 – 10cm, góc có bẹ rộng, đầu nhọn, mép nguyên uốn lượn, gân song song, gân chính lối rõ ở mặt dưới, hai mặt màu lục nhạt.
  • Cụm hoa mọc ở giữa túm lá thành tán, trên một cán mập, dẹt, dài 40 – 60cm, gồm nhiều hoa to màu trắng, thơm, bao hoa có ống hẹp màu lục dài 7 – 10cm, mẫu 3. Lá đài và cánh hoa giống nhau, hình dài thuon hẹp; nhị 6, chỉ nhị màu đỏ tía; bầu dạng thoi. 
  • Quả nang, gần hình cầu, đường kính 3 – 5cm, thương chỉ chứa 1 hạt.
  • Mùa hoa quả: tháng 6 – 8.

PHÂN BỐ, SINH THÁI:

  • Chi Crinum L. có khoảng 165 loài trên thế giới, phân bố khá rộng rãi ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, đặt biệt là các vùng ven biển. Môt số loài có hoa đẹp và thơm nên được trồng làm cảnh. Ở Việt Nam, chi này có 8 loài.
  • Ở Việt Nam, náng hoa trắng mọc hoang dại ở chân núi đá vôi hoặc các bãi hoang thuộc vùng ven biển nhưng thường trong quần thể thống nhất.
  • Náng hoa trắng là cây ưa ẩm, ưa sang, và có thể hơi chịu nóng, sinh trưởng mạnh trong mùa mưa ẩm; một năm có thể ra 4 – 6 lá mới, thay thế các lá già đã xuất hiện trước đó từ 1 đến 1,5 năm. Về mùa đông, cây ngừng sinh trưởng. Cây ra hoa quả hàng năm. Tỷ lệ hoa đậu quả chỉ khoảng 40 – 50%. Cây có khả năng đẻ nhánh khỏe từ chồi gốc. Cây chồi cũng là nguồn giống để trồng.

BỘ PHẬN DÙNG:

  • Lá và thân hành thu hái quanh năm, dùng tươi.

THÀNH PHẦN HÓA HỌC:

  • Thành phần chủ yếu là alkaloid: ambelin, crinamin, crinasiatin…..
  • Thứ Crium asiaticum var. japonicum chứa galanthamin – N- demethyl, galanthamin – O, N-diacetyl, hamayan.

TÁC DỤNG DƯỢC LÝ:

  • Thân hành náng hoa trắng có tính chất đắng, nhuận tràng và long đờm, được dùng trong đa tiết mật, đái són đau và rối loạn tiết niệu khác. Thân hành tươi gây buồn nôn và nôn mà không gây đau bụng hoặc tẩy. Thân hành còn có tác dụng làm ra mồ hôi.
  • Lá có tác dụng long đờm và chống viêm. Cao chiết với nước, với methanol và alkaloid toàn phần từ lá, thân và rễ náng hoa trắng có tác dụng ức chế sự phân bào của rễ hành ta, cao methanol có tác dụng mạnh hơn cao nước. Alcaloid toàn phần có tác dụng rất mạnh.
  • Hạt có tác dụng tẩy và lợi niệu.
  • Thân hành có độc, khi dùng phải thận trọng.

CÔNG DỤNG:

  • Nhân dân thường dùng lá náng hoa trắng hơ nóng đắp và bóp vào những chỗ tụ máu, sai gân, bong gân, sưng tấy do ngã hay bị đánh, khớp sưng đau, bó gãy xương. Còn dùng khi xoa bóp khi bị tê thấp, nhức mỏi. Thân hành giả nát nướng đắp trị thấp khớp. 
  • Ở miền Nam Trung Quốc, nhân dân dùng lá náng hoa trắng hơ nóng đắp chữa sưng tấy, bong gân. Có khi còn dùng nước sắc lá rửa và trị trĩ ngoại. 
  • Ở Ấn Độ, nhân dân dùng hạt làm thuốc điều kinh, lợi tiểu, tẩy; dùng lá làm thuốc long đờm, đắp điều trị bệnh da, và làm giam viêm. Để gây nôn, thân hành náng hoa trắng tươi giã nát, thêm 4 phần nước, gạn uống cứ vài phút một lần (mỗi lần 8 – 16g) cho đến khi nôn được, chú ý theo dõi tránh ngộ độc. Thân hành giã nướng đắp chữa thấp khớp. Lá phơi khô đốt xua muỗi. Còn dùng nước ép thân rễ nhỏ vào tai chữa đau tai. 
  • Ở Madagascar, thân hành đắp trị áp xe, mụn nhọt, và dịch ép lá rỏ tai trị đau tai.
  • Ngoài cây náng hoa trắng, đôi khi cây náng hoa đỏ cũng được dùng với công dụng tương tự. 

BÀI THUỐC CÓ NÁNG HOA TRẮNG:
1.    Chữa sai khớp, bong gân (Hải Thượng Lãn Ông):
Lá náng, quế, hồi hương, đinh hương, vỏ sồi, vỏ núc nác, gừng sống, lá canh châu, lá dây đau xương, mủ xương rồng bà, lá thầu dầu tía, lá kim cang, lá mua, huyết giác, củ nghệ, hạt trấp, hạt máu chó, lá bưởi bung, lá tầm gửi cây khế (nếu có sưng cơ thì bỏ lá đau xương, thêm giấm). Tất cả giã nát, sao nóng mà chườm. 
2.    Chữa tụ máu, sưng tấy do bị ngã hay bị đánh, bong gân, bó gãy xương:
Lá náng 10 – 20g, lá dây đòn gánh 10g, lá bạc thau 8g. Giã nhỏ, thêm ít rượu, nướng, đắp nóng. Ngày làm 1 lần. 
3.    Chữa thấp khớp, sai gân, bong gân, tụ máu:
a.    Náng hoa trắng, mua thấp, mỗi thứ 30g, dạ cẩm 20g. Ba vị dùng lá tươi giã đắp. 
b.    Lá náng hoa trắng 30g, lá sỉ, lá sở mỗi vị 20g. Tất cả dùng tươi, giã nát, trộn với lòng trắng trứng, đắp, băng lại. Hai ngày thay một lần.


 

Ngại gọi điện? Vui lòng nhập số điện thoại

Sản phẩm liên quan



DANH LỤC CÂY THUỐC

  • {{ medicine.title }}

TRA CỨU THEO BỆNH

  • {{ disease.title }}